THÔNG TIN NGHIỆM THU ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC 2015 CỦA TS NGUYỄN VĂN CÔNG
22/01/2018 | 559 lượt xem

THÔNG TIN NGHIỆM THU ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC 2015

1. Tên đề tài: Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn sinh kế của hộ nông dân ở tỉnh Bắc Kạn.

2. Mã số: ĐH 2015 - TN08 – 05

3. Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Kinh tế & QTKD - Đại học Thái Nguyên

4. Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Văn Công

5. Quyết định thành lập Hội đồng: Số 97/QĐ-ĐHTN ngày 17 tháng 01 năm 2018 của Giám đốc Đại học Thái Nguyên

6. Thời gian nghiệm thu: 9h30, thứ ba - ngày 30 tháng 01 năm 2018

7. Địa điểm nghiệm thu: Phòng họp B – Trường ĐH Kinh tế & QTKD, ĐHTN

Trân trọng kính mời các giảng viên, nhà khoa học, nhà quản lý, nghiên cứu sinh, học viên thạc sĩ, sinh viên và người quan tâm đến dự.

 

     ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐH KINH TẾ & QTKD

 

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Thông tin chung

-       Tên đề tài: Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn sinh kế của hộ nông dân ở tỉnh Bắc Kạn.

-       Mã số: ĐH 2015-TN08-05

-       Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Văn Công

-       Tổ chức chủ trì: Trường Đại học Kinh tế & QTKD - Đại học Thái Nguyên

-       Thời gian thực hiện: từ tháng 09/2015 đến tháng 9/2017

2. Mục tiêu

- Nghiên cứu những vấn lý luận và thực tiễn liên quan đến sinh kế hộ nông dân, nhóm nguồn lực, tiếp cận nguồn lực và chiến lược sinh kế;

- Xác định những nhân tố thuận lợi và cản trở hộ nông dân tiếp cận các nguồn lực để phát triển kinh tế và giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn;

- Đề xuất giải pháp, khuyến nghị chính sách để hộ nông dân tiếp cận tốt hơn, sử dụng có hiệu quả hơn những nguồn lực sinh kế ở địa phương.

3. Tính mới và sáng tạo

Đề tài đã làm rõ lý luận về vấn đề sinh kế của hộ nông trong quá trình phát triển. Luận giải khả năng và giới hạn của kinh tế hộ nông dân trong phát triển kinh tế. Trên góc độ sinh kế, đề tài chỉ ra cơ chế tác động của các nguồn lực sinh kế sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động sinh kế, và các hoạt động sinh kế sẽ ảnh hưởng đến các kết quả sinh kế.

Về thực tiễn, đề tài đã chỉ ra ở địa bàn tỉnh Bắc Kạn tình trạng nghèo có nguyên nhân chính là do địa bàn sinh sống không thuận lợi, tập quán nhiều vùng còn lạc hậu, năng lực và kiến thức của hộ nông dân còn yếu đã cản trở họ trong việc tiếp cận, sử dụng các nguồn vốn sinh sinh kế. Đề tài cũng đã chỉ ra rằng, chính sách hỗ trợ của các tổ chức đối với các hộ nông dân ở Bắc Kạn vẫn theo hình thức giúp đỡ từ bên ngoài. Từ đó đề tài cho rằng điểm tựa để kinh tế hộ nông dân có thể phát huy sức mạnh hiện nay là: 1) Nhà nước phải có các cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội, đầu tư phát triển hạ tầng phù hợp với điều kiện đặc thù từng địa bàn vùng, miền; 2) hộ nông dân phải nhận thức rõ các chính sách là nhằm giúp cho hộ thấy được vai trò của chính họ trong quá trình sử dụng, cải thiện có hiệu quả các nguồn lực, kể cả nguồn lực sẵn có và nguồn lực được hỗ trợ từ bên ngoài để chủ động biến nguồn lực thành các kết quả sinh kế theo hướng bền vững

4. Kết quả nghiên cứu

Đề tài đã đã phân tích, làm rõ bức tranh tổng thể về sự phát triển của loại hình kinh tế hộ nông dân tại tỉnh Bắc Kạn. Làm rõ những khó khăn, trở ngại về phát triển kinh tế của các hộ nông dân ở Bắc Kạn còn thiếu tính bền vững, đó là những trở ngại về nhận thức, phong tục tập quán; nguồn lực; thị trường đầu vào, đầu ra; cơ chế chính sách, ...

Đề tài chỉ ra thực trạng phân bố không đồng đều của các nguồn vốn có tác động  đến hoạt động sinh kế của hộ. Mỗi hộ có trung bình 0,558 ha đất canh tác nông nghiệp và 2,497 ha/hộ.đất lâm nghiệp. tuy nhiên việc phân bổ đất rừng và đất trồng trọt giữa các nhóm hộ, giữa các huyện có sự chênh lệch.

Quan hệ cộng đồng, dòng họ của hộ nông dân khá tốt, giúp cho họ nhận được sự hỗ trợ lẫn nhau trong phát triển sản xuất. Tuy nhiên cơ hội tiếp cận của hộ với các dịch vụ xã hội còn yếu. Việc hỗ trợ của các tổ chức xã hội mới chỉ tập trung vào thông tin kỹ thuật và vay vốn.

Nguồn lực vật chất của nhiều hộ vẫn gặp nhiều khó khăn về giao thông và tình trạng thiếu điện cho sản xuất, đời sống.

Tích lũy tài chính của hộ nông dân còn hạn chế do thu nhập thấp. Nhiều hộ đã được tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng nhưng nguồn vốn này thấp, đây là rào cản trong quá trình vươn lên thoát nghèo. Các hoạt động sinh kế của hộ nông dân chủ yếu là trồng trọt kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm.

Trên cơ sở đó, đề tài cho rằng để giúp kinh tế hộ nông dân phát triển được bền vững, tỉnh cần có chính sách thích hợp hỗ trợ để tạo ra một môi trường thuận lợi cho các hộ gia đình thực hiện các sinh kế, đó là tăng cường các nguồn lực sinh kế cho hộ gia đình, đặc biệt là nguồn lực tự nhiên và nguồn lực vật chất. Vấn đề quan trọng là phải có một nền tảng hạ tầng cơ sở tốt do nhà nước đầu tư; phải có sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ để làm điểm tựa cho kinh tế hộ trong vấn đề liên kết, hợp tác, tham gia vào chuỗi giá trị, giải quyết các vấn đề về nguồn lực, kỹ thuật, công nghệ, thị trường, giá cả.... Từ đó đề tài đã đưa ra những quan điểm và một số giải pháp, nhằm đưa loại hình kinh tế hộ nông dân ở Bắc Kạn ngày càng phát triển và phát triển bền vững trong thời gian tới.

5. Sản phẩm

5.1. Sản phẩm khoa học

5.1.1.  Báo cáo tổng hợp

5.1.2. Đăng 04 Bài báo đăng tạp chí trong nước

- Nguyễn Văn Công (2016), “Ổn định thu nhập của hộ nông dân hướng tới giảm nghèo bền vững tại tỉnh Bắc Kạn”, Tạp chí Lao động và Xã hội, Số 528, 2016, tr. 49-51.

- Nguyễn Văn Công (2016), “Khai thác thế mạnh nguồn vốn nhân lực cải thiện sinh kế của hộ nông dân trong giảm nghèo ở Bắc Kạn”, Tạp chí Lao động và Xã hội, Số 529, 2016, tr. 59-61.

- Nguyễn Văn Công (2016), “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cho sản phẩm quýt Bắc Kạn”, Tạp chí Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội, số 127, tháng 7/2016, tr.30-39.

- Nguyễn Văn Công (2016), “Phát triển kinh tế hộ nông dân gắn với giảm nghèo bền vững tỉnh Bắc Kạn”, Tạp chí Nghiên cứu Địa lý Nhân văn, Số 3, 2016, tr. 31-38

5.2. Sản phẩm đào tạo

5.2.1. Hướng dẫn 01 nhóm sinh viên nghiên cứu khoa học

Bùi Thị Nhung (2016), Nghiên cứu sinh kế của hộ nông dân vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ - Na Rì - Bắc Kạn, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ sinh viên, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh (Loại tốt).

5.3. Sản phẩm khác

- Giấy xác nhận sử dụng ứng dụng kết quả nghiên cứu đề tài của Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn.

6. Phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu

Địa chỉ ứng dụng: Tỉnh Bắc Kạn.

Tác động và lợi ích:

- Đối với lĩnh vực kinh tế xã hội và nhân văn đây sẽ một công trình nghiên cứu có giá trị kham khảo đối với các công trình nghiên cứu có liên quan đến hệ thống chính sách phát triển kinh tế hộ và giảm nghèo bền vững ở Việt Nam. Tuy đề tài được thực hiện nghiên cứu trên địa bàn cụ thể, nhưng công trình vẫn mang những nét khái quát rộng hơn cho cả khu vực miền núi và trung du, mở hướng tiếp cận mới đối với công tác nghiên cứu khoa học về phát triển kinh tế hộ nông dân trong điều kiện nền kinh tế đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế ở Việt Nam.

- Kết quả nghiên cứu của đề tài phần nào giúp các nhà hoạch định chính sách của tỉnh Bắc Kạn có căn cứ và cơ sở khoa học trong việc xây dựng, quản lý trong lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân (một lĩnh vực có nhiều tiềm năng và lợi thế so sánh cho phát triển kinh tế của tỉnh) có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật quản lý trong thời gian tới.      

         INFORMATION ON RESEARCH RESULTS

1. General information:

-       Project title: Improving the efficiency of households’ livelihood capitals in Bac Kan province

-       Code number: ĐH 2015-TN08-05

-       Coordinator: Assoc. Dr. Nguyen Van Cong

-       Implementing institution: College of Economics and Business Administration - TNU

-       Duration: From September, 2015 to September, 2017

2. Objective:

- To study the theoretical and practical issues related to households’ livelihood such as: livelihood capitals, livelihood capitals’ accessibility, and livelihood strategy;

- To determine factors affecting households’ accessibility to livelihood capitals for economic development and poverty reduction in Bac Kan province;

- To propose solutions and policy recommendations to help Bac Kan province’s households better access and use local livelihood capitals more effectively.

3. Creativeness and innovativeness:

The study clarified the theory of farmers’ livelihoods in the development process. It also explains the possibilities and limitations of household economy in economic development. In terms of livelihoods, the research shows the impact of livelihood resources on livelihood activities, as well as livelihood activities’ influence on livelihood outcomes.

In reality, the project pointed out the reasons of Bac Kan province’s poverty including: The poor living conditions of local people are still unfavorable, many regions are still backward, poor farmers’ capacity and knowledge are weak which has prevented them from accessing and using livelihood resources. The results has also shown that support policies for households in Bac Kan are in the form of external assistance. Since then, the study revealed that the fulcrum promoting household economy’s power is: 1) The State must have mechanisms and policies to support socio-economic development and investment in infrastructure development suitable to specific conditions of each region, 2) Households should be aware that the policies are to help them see their own roles in the process of using and improving the resources, including available resources and external resources to actively turn resources into sustainable livelihood outcomes.

4. Research results:

The study analyzed the overall picture of household economy’s development in Bac Kan province as well as clarified its the difficulties and obstacles. Households’ economy in Bac Kan still lack of sustainability because of obstacles of awareness, customs and habits, power; input and output markets, policy mechanisms. The research shows the unequal distribution of capital that has an impact on household livelihoods. Each household has an average of 0.558 hectares of agricultural land. However, the distribution of forest land and arable land among household groups, between districts, is different. Community relations, family line of the farmers are quite good, helping them receive mutual support in production development. However, households ‘access to social services is weak. The support of social organizations has only focused on technical information and loans. Many households still face many difficulties in transportation and lack of electricity for production and life. Farmers' financial accumulation are limited due to low income. Many households have access to bank credit but this source is low, which is a barrier in the process of escaping poverty. Livelihood activities of the households are mainly cultivation combining with cattle and poultry raising. Based on that, the research showed that in order to help the household economy grow sustainably, the province should have appropriate policies to support them implementing livelihoods. It is to increase livelihoods resources for households, especially natural resources and material resources. It is also important to have a good public infrastructure. There must have strong development of industrial enterprises and services to serve as the fulcrum for household economy in terms of linking, cooperating and participating in the value chain, solving the problems of resources, technology, market, price. Since then, the study has come up with some ideas and solutions to make the households economy in Bac Kan more and more sustainable development in the future

5. Products:

5.1. Scientific products:

5.1.1. Scientific report

5.1.2. 04 articles published in domestic magazines

- Nguyen Van Cong (2016), “Stabilize household income towards sustainable poverty reduction in Bac Kan province”, Journal of labor and social affairs, no. 528, 2016, page: 49-51.

- Nguyen Van Cong (2016), “Exploit strength of human capital to improve livelihoods of poor farmers in Bac Kan”, Journal of Labor and Social Affairs, No. 529, 2016, page: 59-61.

- Nguyen Van Cong (2016), “Solutions to improve economic efficiency for Bac Kan tangerines products”, Journal of Socio-Economic Information and Forecasting (No. 127, July 2016), pp. 30-39.

- Nguyen Van Cong (2016),  “Promoting household economics in association with sustainable poverty reduction in Bac Kan province” Journal of Human Geography, Vol. 3,2016, pp. 31-38.

5.2. Training products:

5.2.1. Guide 01 group of student to do scientific research

Bui Thi Nhung et al (2016), Study of household livelihoods in the buffer zone Kim Hy- Na Ri nature reserve, Summary report on student science and technology, University of Economics and Business Administration (Result: Pretty good).

5.3. Other products

- Certificate of application of research results of Bac Kan Department of Agriculture and Rural Development

6. Transfer alternatives, application institutions, impacts and benefits of research results:

- Application institutions: Bac Kan province

- Impacts and benefits of research results:

For the socio-economic and humanities field, this will be a valuable reference for researches related to sustainable household economic development and poverty alleviation policies in Vietnam. Although the research carried out in a particular area, the results still carry broader trajectories for the northern mountainous and midland region, open up new approaches to scientific research in the field of developing household economy in the context of industrialization, modernization and international integration in Vietnam.

The research results provide the policy makers of Bac Kan province scientific basis to promote socio-economic development, especially agricultural, rural, and household development (an area which the province has great potential and comparative advantage) as well as to improve the policy systems next time.